HỘI THẢO KHOA HỌC: GIAO LƯU VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC CHÂU Á

Thuộc nhiệm vụ khoa học cấp Bộ “Giao lưu văn học Việt Nam và thế giới giai đoạn 40 năm Đổi mới (1986 – 2026)” do TS Nguyễn Phương Thảo làm chủ nhiệm, Hội thảo khoa học “Giao lưu văn học Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực Châu Á” đặt mục tiêu tạo lập một diễn đàn học thuật nhằm khảo sát, đối sánh và phân tích tiến trình giao lưu văn học giữa Việt Nam với các nền văn học tiêu biểu trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á từ sau công cuộc Đổi mới (1986) đến nay.

Trên cơ sở các trường hợp nghiên cứu cụ thể – từ tiếp nhận và dịch thuật văn học đương đại Trung Quốc ở Việt Nam (1986-1990s) về văn học thời kỳ mới (新时期文学), văn học thế kỷ mới (新世纪文学), so sánh các văn bản dịch Truyện Kiều tại Trung Quốc… cho đến tiến trình dịch thuật, nghiên cứu học thuật, giao lưu văn học Việt-Hàn; và case study về tác phẩm của nữ nhà văn Châu Á đầu tiên nhận giải Nobel văn học – Han Kang (năm 2024), thông qua tái kết nối những cội rễ phi nhân như một hình thức thức nhận bạo lực (đọc Người ăn chay của Han Kang). Các bản dịch và nghiên cứu so sánh văn học Việt-Hàn xoay quanh những tác phẩm nổi bật như Tam Quốc sử kí, Tam Quốc di sự, Việt Nam vong quốc sử, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, Xuân Hương truyện, Nhàn trung lục, Nhật ký trong tù, Nỗi buồn chiến tranh, Hãy chăm sóc mẹ (trong cái nhìn đối chiếu với phim Mang mẹ đi bỏ – mới công chiếu tại rạp Việt Nam vào tháng 8. 2025) … cho thấy sự giao thoa, tiến trình giao lưu văn học vừa mang tính bền vững vừa đa dạng về thể loại.

Một số tham luận hướng tới khẳng định vai trò của nhà thơ Basho (ông tổ thể thơ Haiku); các dịch giả – học giả, các nhà Việt Nam học như Hoàng Dật Cầu, La Trường Sơn (Trung Quốc); Ahn Kyong-hwan, Jeon Hye-kyeong, Bae Yang-soo (Hàn Quốc)… cho thấy vấn đề hội nhập văn hóa trong bối cảnh quốc tế từ câu chuyện dịch thuật đòi hỏi cần có những nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu tình huống, những ý tưởng khoa học được trình bày có thể gợi dẫn các cách tiếp cận mang tính lý thuyết cho mảng đề tài nghiên cứu văn học dịch và dịch văn học ở nước ta, được biểu hiện như những “trung gian văn hóa”, những diễn ngôn cụ thể trong khu vực văn học Châu Á và toàn cầu. Những phân tích sâu sắc về quý ngữ, các đặc trưng thẩm mỹ văn chương Nhật Bản qua thơ Haiku, giúp làm rõ giá trị hàm súc và khả năng gợi mở của thể thơ này, đồng thời đề xuất định hướng giảng dạy phù hợp trong trường phổ thông Việt Nam.

Mục tiêu cốt lõi của một số tham luận trong hội thảo nhằm nhận diện các cơ chế chuyển dịch ngữ nghĩa (dịch từ nguyên bản; bản dịch trung gian bằng một ngôn ngữ khác như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc; cái khó của dịch giả trong việc xây dựng ngôn ngữ chuẩn mực, ngôn ngữ văn hóa của dân tộc…). Hội thảo mang ý nghĩa khoa học khi không chỉ bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu, dịch thuật, đối chiếu các trường hợp văn học nổi bật (hoặc chưa được biết đến/ quan tâm khảo cứu) mà còn mở rộng phạm vi nghiên cứu từ bình diện văn bản học/ dịch bản đến bình diện bối cảnh tiếp nhận, dịch thuật. Việc tích hợp các trường hợp điển cứu – từ ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng và nghệ thuật phương Tây đối với đời sống văn học Việt Nam và châu Á, đến phân tích cấu trúc diễn ngôn trong Người ăn chay như một hình thức phản tư về bạo lực và bản thể – cho phép hội thảo không chỉ nhận diện các dòng chảy giao lưu dịch thuật, nghiên cứu văn học, mà còn truy tìm cơ chế hình thành “tính hiện đại châu Á” trong văn chương thế giới. Dưới góc nhìn ego-identity (nhận diện bản ngã) và “xã hội mệt mỏi”, liệu hành vi “trở về phi nhân” của nhân vật Young Hye (phân tích trong một tham luận) để tìm về một bản ngã tiền xã hội (pre-social self) mang tính “phi nhân” (non-human), có phải là một hình thức tự giải phóng, hay chỉ là một cách trốn chạy? Và khi Han Kang được trao Nobel, liệu diễn ngôn này có được toàn cầu tiếp nhận như tiếng nói phản kháng, hay được nhìn như một biểu hiện bi kịch của con người thời hậu hiện đại?

Một số tham luận được trình bày tại Hội thảo:

  1. Vài nét về vấn đề tiếp nhận và dịch thuật Văn học Trung Quốc đương đại ở Việt Nam thời kỳ sau Đổi mới (TS. Nguyễn Thị Thúy Hạnh);
  2. Thẩm mỹ văn chương Nhật Bản và thơ haiku trong trường phổ thông Việt Nam (PGS.TS. Đào Thị Thu Hằng);
  3. Giao lưu văn học Việt-Hàn: Từ dịch thuật đến nghiên cứu học thuật (TS. Nguyễn Phương Thảo);
  4. Tái kết nối những cội rễ phi nhân như một hình thức thức nhận bạo lực (đọc Người ăn chay của Han Kang) (ThS. Đặng Thị Thái Hà);
  5. Tình hình dịch thuật và nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn Du ở Trung Quốc (TS. Nguyễn Thị Mai Quyên);
  6. Những trào lưu tư tưởng và nghệ thuật phương Tây ảnh hưởng mạnh tới đời sống văn học tại Việt Nam và các quốc gia Châu Á (TS. Hoàng Tố Mai).

Một số hình ảnh từ Hội thảo: